
administrator
Administrator
Thành viên BQT
Bjørnstjerne Bjørnson tên đầy đủ là Bjørnstjerne Martinus Bjørnson (8/12/1832 – 26/4/1910) là nhà văn, nhà viết kịch Na Uy đoạt giải Nobel Văn học năm 1903. Bjørnstjerne Bjørnson là một trong bốn nhà văn lớn của Na Uy, cùng với Henrik Ibsen, Jonas Lie và Alexander Kielland.
Tiểu sử
Bjørnson sinh ra tại trang trại ở Kvikne,một ngôi làng hẻo lánh ở quận Østerdalen, cách Trondheim khoảng 60 dặm về phía nam. cha của Bjørnstjerne Bjørnson, Peder Bjørnson từng là một mục ở Kvikne. Năm Bjørnson 5 tuổi, gia đình rời Kvikne đến vùng Romsdal phong cảnh đẹp ở Tây Na Uy, nơi cậu bé vào học tại trường Modle. Bjørnson làm thơ, ra báo viết tay và quan tâm đến chính trị từ rất sớm. Năm 1849 ông đến Christiana (nay là Oslo). Tại đây ông đã gặp gỡ với nhà viết kịch vĩ đại Henrik Ibsen và các nhà văn tên tuổi khác của Na Uy. Ông trúng tuyển vào đại học Oslo năm 1852, sớm bắt đầu sự nghiệp của một nhà báo, tập trung vào phê bình kịch.. Năm 1856 sang dự hội nghị sinh viên tại Thụy Điển, ông kinh ngạc trước những kỉ niệm về quá khứ, các trang phục dân tộc, vũ khí, bia mộ của các vị vua Thụy Điển và nảy ra ý tưởng trở về khôi phục lịch sử đất nước mình.
Tham gia vào chiến dịch vận động thành lập và trở thành giám đốc Nhà hát Quốc gia Na Uy ở Berrgen năm 1857, Bjørnstjerne Bjørnson giữ vai trò nhà hoạt động văn hóa hàng đầu của đất nước. Trở về Oslo năm 1859, ông ra tờ nhật báo buổi chiều Aftenbladet - cơ quan ngôn luận của Đảng Tân Tự do Na Uy. Từ năm 1865 đến năm 1867 ông làm giám đốc Nhà hát Christiana. Trong khoảng thời gian từ năm 1864 đến năm 1874, ông chủ yếu bận rộn với chính trị và công việc kinh doanh của mình với tư cách là một nhà quản lý sân khấu. Đây là thời kỳ tuyên truyền sôi nổi nhất của Bjørnson với tư cách là một kẻ kích động cực đoan. Năm 1871, ông bắt đầu bổ sung cho công việc báo chí của mình bằng cách thuyết trình khắp Scandinavia.
Trước năm 1873 ông chủ yếu làm thơ, viết kịch, bài hát, truyện vừa, truyện cổ tích về đề tài lịch sử. Cuối những năm 1860 sáng tác thơ của ông đạt đến thời kì rực rỡ nhất với các tập tiêu biểu Digte og Sange (Thơ và những khúc ca, 1870), Arnljot Gelline (1870). Thơ của ông được phổ nhạc nhiều, trong đó có bài Vâng, chúng ta yêu mảnh đất này (1859) về sau trở thành Quốc ca Na Uy. Kịch của ông đề cập đến những vấn đề thời sự xã hội, dàn dựng ở nhiều nước châu Âu và Mỹ. Tác phẩm bộ ba Sigurd hung bạo (1863) kể về kẻ tiếm ngôi bí mật thời Trung Cổ, được đánh giá là vở kịch xuất sắc nhất của ông. Ngoài ra ông còn viết một số tiểu thuyết theo phong cách hiện thực chủ nghĩa (Những lá cờ bay trên thành phố và bến cảng (1884), Trên con đường của Chúa (1889). Những năm 1873-1876 nhà văn sống tại Roma. Thời gian này ông chuyên viết phê bình xã hội, tích cực bảo vệ tính độc lập chính trị và văn hóa của Na Uy. Năm 1881 ông qua Mỹ, từ năm 1893 về sống tại một trang trại ở Na Uy và thường xuyên ra nước ngoài.
Năm 1903 Bjørnstjerne Bjørnson là nhà văn đầu tiên trong khối Bắc Âu được nhận giải Nobel Văn học vì những đóng góp trong các lĩnh vực thơ, văn xuôi và kịch. Năm 1910, sau khi vở kịch cuối cùng Bao giờ nho mới trổ hoa được ấn hành, Bjørnstjerne Bjørnson qua đời ở tuổi 77.
Tác phẩm
Tiểu sử
Bjørnson sinh ra tại trang trại ở Kvikne,một ngôi làng hẻo lánh ở quận Østerdalen, cách Trondheim khoảng 60 dặm về phía nam. cha của Bjørnstjerne Bjørnson, Peder Bjørnson từng là một mục ở Kvikne. Năm Bjørnson 5 tuổi, gia đình rời Kvikne đến vùng Romsdal phong cảnh đẹp ở Tây Na Uy, nơi cậu bé vào học tại trường Modle. Bjørnson làm thơ, ra báo viết tay và quan tâm đến chính trị từ rất sớm. Năm 1849 ông đến Christiana (nay là Oslo). Tại đây ông đã gặp gỡ với nhà viết kịch vĩ đại Henrik Ibsen và các nhà văn tên tuổi khác của Na Uy. Ông trúng tuyển vào đại học Oslo năm 1852, sớm bắt đầu sự nghiệp của một nhà báo, tập trung vào phê bình kịch.. Năm 1856 sang dự hội nghị sinh viên tại Thụy Điển, ông kinh ngạc trước những kỉ niệm về quá khứ, các trang phục dân tộc, vũ khí, bia mộ của các vị vua Thụy Điển và nảy ra ý tưởng trở về khôi phục lịch sử đất nước mình.
Tham gia vào chiến dịch vận động thành lập và trở thành giám đốc Nhà hát Quốc gia Na Uy ở Berrgen năm 1857, Bjørnstjerne Bjørnson giữ vai trò nhà hoạt động văn hóa hàng đầu của đất nước. Trở về Oslo năm 1859, ông ra tờ nhật báo buổi chiều Aftenbladet - cơ quan ngôn luận của Đảng Tân Tự do Na Uy. Từ năm 1865 đến năm 1867 ông làm giám đốc Nhà hát Christiana. Trong khoảng thời gian từ năm 1864 đến năm 1874, ông chủ yếu bận rộn với chính trị và công việc kinh doanh của mình với tư cách là một nhà quản lý sân khấu. Đây là thời kỳ tuyên truyền sôi nổi nhất của Bjørnson với tư cách là một kẻ kích động cực đoan. Năm 1871, ông bắt đầu bổ sung cho công việc báo chí của mình bằng cách thuyết trình khắp Scandinavia.
Trước năm 1873 ông chủ yếu làm thơ, viết kịch, bài hát, truyện vừa, truyện cổ tích về đề tài lịch sử. Cuối những năm 1860 sáng tác thơ của ông đạt đến thời kì rực rỡ nhất với các tập tiêu biểu Digte og Sange (Thơ và những khúc ca, 1870), Arnljot Gelline (1870). Thơ của ông được phổ nhạc nhiều, trong đó có bài Vâng, chúng ta yêu mảnh đất này (1859) về sau trở thành Quốc ca Na Uy. Kịch của ông đề cập đến những vấn đề thời sự xã hội, dàn dựng ở nhiều nước châu Âu và Mỹ. Tác phẩm bộ ba Sigurd hung bạo (1863) kể về kẻ tiếm ngôi bí mật thời Trung Cổ, được đánh giá là vở kịch xuất sắc nhất của ông. Ngoài ra ông còn viết một số tiểu thuyết theo phong cách hiện thực chủ nghĩa (Những lá cờ bay trên thành phố và bến cảng (1884), Trên con đường của Chúa (1889). Những năm 1873-1876 nhà văn sống tại Roma. Thời gian này ông chuyên viết phê bình xã hội, tích cực bảo vệ tính độc lập chính trị và văn hóa của Na Uy. Năm 1881 ông qua Mỹ, từ năm 1893 về sống tại một trang trại ở Na Uy và thường xuyên ra nước ngoài.
Năm 1903 Bjørnstjerne Bjørnson là nhà văn đầu tiên trong khối Bắc Âu được nhận giải Nobel Văn học vì những đóng góp trong các lĩnh vực thơ, văn xuôi và kịch. Năm 1910, sau khi vở kịch cuối cùng Bao giờ nho mới trổ hoa được ấn hành, Bjørnstjerne Bjørnson qua đời ở tuổi 77.
Tác phẩm
- Mellem Slagene, (Between the Battles) saga drama, 1857
- Synnøve Solbakken, peasant story, 1857
- Arne, 1859
- En glad Gut, (A Happy Boy) 1860
- Halte-Hulda, (Lame Hulda) 1858
- Kong Sverre, (King Sverre) 1861
- Sigurd Slembe, (Sigurd the Bad) 1862
- Maria Stuart i Skotland, (Mary Stuart in Scotland) 1863
- De Nygifte, (The Newly Married) 1865
- Fiskerjenten, 1868
- Arnljot Gelline, epic cycle 1870
- Digte og Sange, (Poems and Songs) 1880
- Brudeslåtten, peasant story, 1872
- Sigurd Jorsalfar, saga drama, 1872
- En fallit, (The Bankrupt) drama, 1875
- Redaktøren, (The Editor) drama, 1875
- Kaptejn Mansana, (Captain Mansana) novel, 1875
- Kongen, (The King) 1877
- Magnhild, 1877
- Det ny system, (The New System) 1879
- Leonarda, 1879
- En hanske (A Gauntlet), 1883
- Støv (Dust), 1882
- Over ævne, første stykke, (Beyond Human Power – I) 1883
- Det flager i byen og på havnen, (translated as "The Heritage of the Kurts") 1884
- På guds veje, (In God's Way) 1889
- Fred, oratorium, 1891
- Over ævne, annet stykke, (Beyond Human Power – II) 1895
- Paul Lange og Tora Parsberg, 1898
- Daglannet, 1904
- Når den ny vin blomstrer, (When the New Wine Blooms) 1909
- Norges Vel, cantata, 1909
Sửa lần cuối: